Nguyễn tắc xây dựng Bài tập trắc nghiệm khánh quan

Thứ hai - 10/09/2018 23:10
I- GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TRẮC NGHIỆM
Trắc nghiệm khách quan (TNKQ) đã có lịch sử phát triển gần một thế kỉ ở các nước phát triển trên thế giới. Hiện nay TNKQ đã được đưa vào sử dụng trong kỳ thi tuyển sinh đại học ở nước ta ở một số bộ môn: Vật lý, Hóa học, Sinh học và Ngoại ngữ.
Vậy Trắc nghiệm (TN) là gì? Theo nghĩa chữ Hán “trắc” là đo, “nghiệm” là suy xét, xác nhận.
Theo GS. TS. Dương Thiệu Tống : “Trắc nghiệm là một dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời câu hỏi: thành tích của các cá nhân như thế nào khi so sánh với những người khác hay so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ dự kiến”. 
Theo GS. Trần Bá Hoành: “Test có thể tạm dịch là phương pháp TN, là hình thức đặc biệt để thăm dò một số đặc điểm về năng lực, trí tuệ của HS (thông minh, trí nhớ, tưởng tượng, chú ý) hoặc để KT một số kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của HS thuộc một chương trình nhất định.
Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động được thực hiện để đo lường năng lực của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định.
            Trong giáo dục, trắc nghiệm được tiến hành thường xuyên ở các kì thi, kiểm tra để đánh giá kết quả học tập, đối với một phần của môn học, toàn bộ môn học, đối với cả một cấp học, hoặc để tuyển chọn một số người có năng lực nhất vào một khoá học.
                        Có thể phân chia các phương pháp trắc nghiệm ra làm 3 loại: loại quan sát, loại vấn đáp và loại viết.

1.  Loại quan sát giúp xác định những thái độ, những kỹ năng thực hành hoặc một số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu.
2.  Loại vấn đáp thường được dùng khi tương tác giữa người chấm và người học là quan trọng, chẳng hạn cần xác định thái độ phản ứng khi phỏng vấn…
3.  Loại viết thường được sử dụng nhiều nhất vì nó có những ưu điểm sau:
-  Cho phép kiểm tra nhiều thí sinh một lúc;
-  Cho phép thí sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời;
-  Đánh giá được một vài loại tư duy ở mức độ cao;
-  Cung cấp bản ghi rõ ràng các câu trả lời của thí sinh để dùng khi chấm;
-  Người ra đề không nhất thiết phải tham gia chấm bài.
Trắc nghiệm viết được chia thành 2 nhóm chính:
•  Nhóm các câu hỏi trắc nghiệm buộc trả lời theo dạng mở, thí sinh phải tự trình bày ý kiến trong một bài viết dài để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra. Người ta gọi trắc nghiệm theo kiểu này là kiểu tự luận (essay). Thi, kiểm tra tự luận rất quen biết với tất cả những ai đi học.
•  Nhóm các câu trắc nghiệm mà trong đó đề thi thường gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết sao cho thí sinh chỉ phải trả lời vắn tắt cho từng câu. Người ta thường gọi nhóm các câu trắc nghiệm này là trắc nghiệm khách quan (objective test).
II- CÁC LOẠI CÂU TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
Nhiều người thường gọi tắt phương pháp trắc nghiệm khách quan là trắc nghiệm. Trong tài liệu này khi dùng từ “trắc nghiệm” mà không nói gì thêm thì có nghĩa là nói đến trắc nghiệm khách quan.
Có thể phân chia trắc nghiệm khách quan ra nhiều kiểu câu hỏi khác nhau: Trắc nghiệm khách quan có nhiều loại câu hỏi khác nhau:
-  Trắc nghiệm Đúng, Sai (Yes/No Questions)
-  Trắc nghiệm nhiều lựa chọn  (Multiple choise questions)
-  Trắc nghiệm điền khuyết (Supply items)
-  Trắc nghiệm trả lời ngắn (Short Answer).
-  Trắc nghiệm ghép đôi (Matching items)
1. Câu ghép đôi (matching items): Cho 2 cột nhóm từ, đòi hỏi thí sinh phải ghép đúng từng cặp nhóm từ ở hai cột với nhau sao cho phù hợp về nội dung. 
* Ưu điểm:
            Câu hỏi trắc nghiệm khách quan ghép đôi dễ viết, dễ dùng, loại này thường phù hợp tâm lý học sinh. Chúng ta có thể dùng dạng câu hỏi này để đo (đánh giá) các loại trí năng khác nhau. Nó đặc biệt hữu hiệu trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức hay lập các mối tương quan.
* Nhược điểm:
            Loại câu hỏi này không thích hợp cho việc thẩm định các khả năng như sắp đặt và vận dụng kiến thức. Muốn soạn loại câu hỏi này để đạt được mục đích đánh giá trí năng cao đòi hỏi rất nhiều công phu. Ngoài ra nếu chúng ta tạo danh sách mỗi cột dài thì học sinh tốn nhiều thời gian cho học sinh đọc mỗi cột trước khi ghép đôi.
2. Câu điền khuyết (supply items): Nêu một mệnh đề bị khuyết một bộ phận (chỗ trống), thí sinh phải nghĩ ra nội dung thích hợp để điền vào chỗ trống.
* Ưu điểm:
            Học sinh có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường, phát huy óc sáng kiến. Học sinh không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ, nghĩ ra, tìm câu trả lời. Dù sao việc chấm điểm dạng này cũng tương đối nhanh hơn tự luận và cách soạn cũng phần nào dễ hơn trắc nghiệm nhiều lựa chọn, song thường rắc rối và khó khăn hơn những dạng trắc nghiệm khách quan khác.
* Nhược điểm:
            Khi soạn dạng trắc nghiệm này thường dễ mắc phải sai lầm là trích nguyên văn các câu và từ trong sách giáo khoa. Đồng thời phạm vi kiểm tra của câu hỏi này thường chỉ giới hạn ở những chi tiết vụn vặt. Việc chấm bài cũng mất thời gian hơn.
3. Câu trả lời ngắn (short answer): là câu trắc nghiệm chỉ đòi hỏi trả lời bằng nội dung rất ngắn.
Ưu nhược điểm giống câu điền khuyết.
4. Câu đúng/sai  (yes/no questions): Đưa ra một nhận định, thí sinh phải lựa chọn một trong hai phương án trả lời để khẳng định nhận định đó là đúng hay sai. 
* Ưu điểm:
Là loại câu hỏi đơn giản dùng để trắc nghiệm khách quan kiến thức về sự kiện, vì vậy viết loại câu hỏi này tương đối dễ dàng, ít phạm lỗi, mang tính khách quan khi chấm.
* Nhược điểm
Học sinh có thể đoán mò vì vậy độ tin cậy thấp. Học sinh Giỏi có thể không thoả mãn khi buộc phải chọn Đúng – Sai khi câu hỏi viết chưa kỹ càng.
5. Câu nhiều lựa chọn (multiple choise questions - MCQ): Đây là loại trắc nghiệm thông dụng nhất. Loại này thường có hai phần: Phần đầu được gọi là phần dẫn, nêu ra vấn đề, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu một câu hỏi. Phần sau là các phương án để chọn thường được đánh dấu bằng các chữ cái A, B, C, D hoặc các con số 1, 2, 3, 4. Trong các phương án đã chọn chỉ có duy nhất một phương án đúng hoặc một phương án đúng nhất còn các phương án khác được đưa vào với tác dụng gây nhiễu còn gọi là câu mồi.
* Ưu điểm:
# Giáo viên có thể dùng loại câu hỏi này để kiểm tra – đánh giá những mục tiêu dạy học khác nhau, chẳng hạn như:
- Xác định mối tương quan nhân quả.
- Nhận biết các điều sai lầm.
- Ghép các kết quả hay các điều quan sát được với nhau.
- Định nghĩa các khái niệm.
- Tìm nguyên nhân của một số sự kiện.
- Nhận biết điểm tương đồng hay khác biệt giữa 2 hay nhiều vật.
- Xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ những sự kiện.
- Xác định thứ tự hay cách sắp đặt nhiều vật.
- Xét đoán vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm.
# Độ tin cậy cao hơn: Yếu tố đoán mò hay may rủi giảm đi nhiều lần so với các loại trắc nghiệm khách quan khác khi số phương án chọn lựa tăng lên.
            # Tính giá trị tốt hơn. Với bài trắc nghiệm có nhiều câu lựa chọn, người ta có thể đo được các khả năng nhớ, áp dụng nguyên lý, định luật, tổng quát hoá rất hữu hiệu.
* Nhược điểm:
            - Loại câu hỏi này khó soạn vì phải tìm câu trả lời đúng nhất, còn những câu còn lại (câu nhiễu) cũng có vẻ hợp lý. Ngoài ra cần soạn câu hỏi để đo được mức trí năng cao hơn mức biết, nhớ, hiểu.
            - Có những học sinh có óc sáng tạo, tư duy tốt, có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn đáp án thì sẽ làm cho học sinh đó cảm thấy không thoả mãn.
            - Các câu hỏi nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm bằng loại câu hỏi trắc nghiệm tự luận soạn kỹ.
Trong các kiểu câu trắc nghiệm đã nêu, kiểu câu “đúng/sai” và kiểu câu “nhiều lựa chọn” có cách trả lời đơn giản nhất. Câu đúng/sai cũng chỉ là trường hợp riêng của câu nhiều lựa chọn với 2 phương án trả lời. Vì vậy kiểu câu nhiều lựa chọn được sử dụng phổ biến hơn cả.
III- TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN
  1. Nguyên tắc xây dựng câu hỏi TNKQNLC:
a. Nguyên tắc chung của việc viết câu hỏi:
- Xác định tổng số câu hỏi muốn viết: Vấn đề cần quan tâm là  phạm vi kiến thức muốn đánh giá qua bài test, mức độ đánh giá, mức độ phức tạp của câu hỏi và thời gian làm bài kiểm tra. (Thông thường, một phút cho một câu hoặc nhiều hơn một phút nếu câu hỏi phức tạp).
- Sử dụng bảng ma trận kiểm tra chi tiết để xác định số lượng câu hỏi cần viết trong mỗi ô.
- Tránh đưa ra câu hỏi có nội dung quá chung chung hoặc quá chi tiết. Điều này, về một khía cạnh nào đó, phụ thuộc vào các chuẩn kiến thức kĩ năng và không nên hỏi về các vấn đề quá rộng lớn hoặc quá vụn vặt.
- Đảm bảo rằng, mỗi câu hỏi kiểm tra một và chỉ một khái niệm/ vấn đề. Nếu câu hỏi kiểm tra hai hay nhiều khái niệm sẽ không biết chắc được học sinh thực sự hiểu khái niệm nào nếu chúng đưa ra đáp án đúng.
- Quyết định xem các câu hỏi đã bao quát các phạm vi kiến thức kĩ năng cốt lõi cần đánh giá.
b. Các nguyên tắc viết câu dẫn cho câu hỏi có nhiều phương án lựa chọn:
- Câu dẫn viết dưới dạng một câu hỏi và phần dẫn đặt ở cuối câu dẫn hơn là đạt ở giữa câu.
- Đưa “ý chính” của câu hỏi vào câu dẫn, không nên đưa vào các câu phương án lựa chọn.
- Sắp xếp câu dẫn hợp lí để tránh các ngôn ngữ/ cách diễn đạt mới lạ, không hợp lí nhưng cũng cố đưa ra nhiều hơn ý của chủ đề vào câu dẫn và đưa ra những phương án lựa chọn ngắn gọn hơn.
- Tránh các từ ngữ mang tính phủ định như “không”, “ngoại trừ”. Nếu sử dụng những từ ngữ này, ta phải làm nổi bật chúng bằng cách in nghiêng, in đậm hoặc gạch chân. Đánh dấu các từ ngữ quan trọng như “không”, “ngoại trừ”, “chỉ có” nếu sử dụng chúng trong câu hỏi.
c. Các nguyên tắc viết phương án lựa chọn cho các câu hỏi có nhiều lựa chọn:
- Trên thực tế nên có 4 phương án lựa chọn trong đó có một phương án đúng/ đúng nhất. Các phương án sai/ nhiễu là một phương án gần đúng và lỗi thường gặp ở học sinh. Tuy nhiên ba phương án cho một câu hỏi sẽ tốt hơn bốn phương án cho một câu hỏi có một đáp án nhiễu kém chất lượng (học sinh dễ nhận ra).
- Các phương án lựa chọn nên có độ dài tương xứng. Một phương án dài hơn hoặc ngắn hơn một cách thái quá có thể thu hút sự chú ý của học sinh vì chúng nổi bật và có thể dễ dàng nhận thấy.
- Các phương án phải phù hợp với câu dẫn về mặt ngữ pháp.
- Nên đưa các từ lặp lại vào câu dẫn hơn là đưa vào các phương án lựa chọn.
- Tránh đưa ra các phương án lựa chọn chồng chéo, có sự trùng lặp, nối tiếp với nhau.
- Tránh đưa ra các phương án “tất cả các phương án trên đều đúng”.
d. Nguyên tắc viết phương án của câu hỏi có nhiều lựa chọn: “Bí kíp” viết các phương án đúng/ đáp án.
- Đảm bảo rằng các đáp án đúng được viết dựa vào chủ đề/ đoạn văn và/ hoặc sự phù hợp/ nhất trí về nội dung kiểm tra (điều được giảng dạy trên lớp học).
- Tránh các câu hỏi “kết nối”, đáp án của câu này được tìm thấy hoặc phụ thuộc vào các câu khác. Vấn đề này thường được kiểm tra khi đọc và chỉnh sửa bản in vào giai đoạn tập hợp các câu hỏi để tạo thành một bài test hoàn chỉnh.
e. Nguyên tắc viết phương án của câu hỏi có nhiều lựa chọn: “Bí kíp” viết các phương án nhiễu.
- Phương án nhiễu là phương án đưa ra nhằm “thu hút” những học sinh không hoàn toàn nắm vững nội dung/ kiến thức .
- Các phương án nhiễu phải có tính hợp lí. Đó thường là những hiểu lầm, những sai sót học sinh thường mắc. Để viết phương án nhiễu, ta sử dụng các hiểu biết của giáo viên về các lỗi thông thường mà học sinh hay mắc phải hay những nhận thức sai trong các khái niệm khoa học.
2. Các bước xây dựng đề trắc nghiệm:
Bước 1. Xác định mục đích của đề kiểm tra
            Đề kiểm tra là một công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học kì, một lớp hay một cấp học, nên người biên soạn đề kiểm tra cần căn cứ vào yêu cầu của việc kiểm tra, căn cứ chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình và thực tế học tập của học sinh để xây dựng mục đích của đề kiểm tra cho phù hợp.
Bước 2. Xác định nội dung kiểm tra
 Việc xác định các nội dung về kiến thức và kĩ năng cần đánh giá để đưa vào đề kiểm tra phải dựa trên những mục tiêu cụ thể ghi trong chương trình môn học. Việc xác định nội dung kiểm tra có thể thực hiện theo các bước sau:
  • Liệt kê các lĩnh vực kiến thức và kĩ năng cần kiểm tra.
  • Liệt kê các lĩnh vực kiến thức và kĩ năng mà học sinh chỉ cần nhớ và nhận ra được (Nhận biết)
  • Liệt kê các lĩnh vực kiến thức và kĩ năng của từng lĩnh vực mà học sinh phải giải thích, so sánh, minh họa, tìm ví dụ... (Thông hiểu)
  • Liệt kê các lĩnh vực kiến thức và kĩ năng của từng lĩnh vực mà học sinh phải vận dụng được vào những tình huống mới (Vận dụng)
Bước 3. Thiết lập ma trận (Rubic) đề kiểm tra (bảng mô tả tiêu chí của đề kiểm tra)
            Lập một bảng có hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức chính cần đánh giá, một chiều là các cấp độ nhận thức của học sinh theo các cấp độ: nhận biết, thông hiểu và vận dụng (gồm có vận dụng ở cấp độ thấp và vận dụng ở cấp độ cao).
            Trong mỗi ô là chuẩn kiến thức kĩ năng chương trình cần đánh giá, tỉ lệ % số điểm, số lượng câu hỏi và tổng số điểm của các câu hỏi.
Số lượng câu hỏi của từng ô phụ thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi chuẩn cần đánh giá, lượng thời gian làm bài kiểm tra và trọng số điểm quy định cho từng mạch kiến thức, từng cấp độ nhận thức.
Bước 4: Biên soạn câu hỏi (item) theo ma trận
Việc biên soạn câu hỏi theo ma trận cần đảm bảo nguyên tắc: mỗi câu hỏi chỉ kiểm tra một chuẩn hoặc một vấn đề, khái niệm; số lượng câu hỏi và tổng số câu hỏi do ma trận đề quy định.
Thông thường, để viết câu hỏi nhiều lựa chọn ta thực hiện theo trình tự sau:
  • Chọn vấn đề và đưa ra câu hỏi
  • Đưa ra các phương án lựa chọn (trong đó có một phương án đúng nhất)
  • Kết hợp phần dẫn và phần lựa chọn tạo đề mới.
Lưu ý : viết câu hỏi tuân theo các nguyên tắc ở trên.
Bước 5: Xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm
Việc xây dựng đáp án và hướng dẫn chấm, thang điểm đối với bài kiểm tra cần đảm bảo các yêu cầu:
- Nội dung: khoa học và chính xác;
- Cách trình bày: cụ thể, chi tiết nhưng ngắn gọn và dễ hiểu;
- Phù hợp với ma trận đề kiểm tra.
Cách tính điểm:
Cách 1: Lấy điểm toàn bài là 10 điểm và chia đều cho tổng số câu hỏi.
Ví dụ: Nếu đề kiểm tra có 40 câu hỏi thì mỗi câu hỏi được 0,25 điểm.
Cách 2: Tổng số điểm của đề kiểm tra bằng tổng số câu hỏi. Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, mỗi câu trả lời sai được 0 điểm.
Sau đó qui điểm của học sinh về thang điểm 10 theo công thức:
, trong đó + X là số điểm đạt được của HS;
+ Xmax là tổng số điểm của đề.
Khi xây dựng bài test cần lưu ý:
- Do trình độ của học sinh và điều kiện cơ sở vật chất ở các trường, vùng, miền rất khác nhau nên để đảm bảo tính khả thi của bài kiểm tra cần có sự thay đổi thích hợp về nội dung cũng như mức độ khó dễ nhưng vẫn phải đảm bảo mục tiêu cơ bản đã nêu trong chương trình chuẩn.
- Để tránh việc học sinh hỏi nhau khi làm bài, nên thay đổi thứ tự các câu để tạo ra những đề kiểm tra có nội dung như nhau nhưng có cấu tạo khác nhau.
Bước 6. Xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra
     Sau khi biên soạn xong đề kiểm tra cần xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra, gồm các bước sau:
            1) Đối chiếu từng câu hỏi với hướng dẫn chấm và thang điểm, phát hiện những  sai sót hoặc thiếu chính xác của đề và đáp án. Sửa các từ ngữ, nội dung nếu thấy cần thiết để đảm bảo tính khoa học và chính xác.
            2) Đối chiếu từng câu hỏi với ma trận đề, xem xét câu hỏi có phù hợp với chuẩn cần đánh giá không? Có phù hợp với cấp độ nhận thức cần đánh giá không? Số điểm có thích hợp không? Thời gian dự kiến có phù hợp không?
            3) Thử đề kiểm tra để tiếp tục điều chỉnh đề cho phù hợp với mục tiêu, chuẩn chương trình và đối tượng học sinh (nếu có điều kiện).
            4) Hoàn thiện đề, hướng dẫn chấm và thang điểm.
3. Cách đánh giá chất lượng câu hỏi TNKQNLC
Để đánh giá chất lượng của câu trắc nghiệm khách quan (TNKQ) hoặc của đề thi TNKQ, người ta thường dùng một số đại lượng đặc trưng.
  1. Độ khó (hoặc độ dễ)
Khi nói đến độ khó, ta phải xem xét câu TNKQ là khó đối với đối tượng nào. Nhờ việc thử nghiệm trên các đối tượng HS phù hợp, người ta có thể xác định độ khó như sau:
Chia loại HS làm 3 nhóm:
- Nhóm giỏi: gồm 27% số HS có điểm cao nhất của kỳ KT.
- Nhóm kém: Gồm 27% số HS có điểm thấp của kỳ KT.
- Nhóm trung bình: Gồm 46% số HS còn lại, không phụ thuộc hai nhóm trên.
Khi đó hệ số về độ khó của câu hỏi (K ) được tính như sau:
K =  
Trong đó:         NG: Số HS thuộc nhóm giỏi trả lời đúng câu hỏi
NK: Số HS thuộc nhóm kém trả lời đúng câu hỏi
n: Tổng số HS nhóm giỏi (hoặc nhóm kém).
Thang phân loại độ khó được qui ước như sau:
  • Câu dễ: 80% 100% HS trả lời đúng.
  • Câu trung bình: 60% 79% HS trả lời đúng
  • Câu tương đối khó: 40% 59% HS trả lời đúng
  • Câu khó: 20% 39% HS trả lời đúng
  • Câu rất khó: dưới 20% HS trả lời đúng
Trong KT - ĐG nếu câu TN có độ khó :         K từ 25% - 75%: dùng bình thường
K từ 10% - 25% và 75% - 90%: cẩn trọng khi dùng
K < 10% và K > 90% không dùng.
b. Độ phân biệt
Khi ra một câu hoặc một bài TN cho một nhóm HS nào đó, người ta muốn phân biệt trong nhóm ấy những người có năng lực khác nhau như: giỏi, khá, trung bình, yếu, kém, … Câu TNKQ thực hiện khả năng đó, gọi là có độ phân biệt. Muốn cho câu hỏi có độ phân biệt thì phản ứng của nhóm HS giỏi và nhóm HS kém đối với câu hỏi đó hiển nhiên phải khác nhau. Thực hiện phép tính thống kê, người ta tính được độ tin phân biệt P theo công thức (CT):
P =  
Thang phân loại độ phân biệt được qui ước như sau:
  • Tỉ lệ HS nhóm giỏi và nhóm kém là đúng như nhau thì độ phân biệt bằng 0.
  • Tỉ lệ HS nhóm giỏi làm đúng nhiều hơn nhóm kém thì độ phân biệt là dương (độ phân biệt dương nằm trong khoảng từ 0 1).
  • Tỉ lệ thí sinh nhóm giỏi làm đúng ít hơn nhóm kém thì độ phân biệt là âm.
Cụ thể như sau:
0 < P < 0,2: Độ phân biệt rất thấp giữa HS giỏi và HS kém.
0,2 < P < 0,4: Độ phân biệt thấp giữa HS giỏi và HS kém.
0,4 < P < 0,6: Độ phân biệt trung bình giữa HS giỏi và HS kém.
0,6 < P < 0,8: Độ phân biệt cao giữa HS giỏi và HS kém.
0,8 < P < 1: Độ phân biệt rất cao giữa HS giỏi và HS kém.
Những câu có        P > 0,32: Dùng được
0,31 ≥ P ≥ 0,22: Nên thận trọng khi dùng.
P < 0,22: Không dùng được.
 
  • Tiêu chuẩn bài TNKQ dạng nhiều lựa chọn
Khi xây dựng câu hỏi, bài toán TNKQ nhiều lựa chọn phải đảm bảo các tiêu chuẩn của nó thì mới đảm bảo độ giá trị và độ tin cậy khi sử dụng. Câu TNKQ nhiều lựa chọn có các tiêu chuẩn định tính và định lượng.
Tiêu chuẩn định lượng

Theo nhiều tác giả, các câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn dùng để đánh giá thành quả học tập thường có độ khó trong khoảng 20 → 80%, tốt nhất nằm trong khoảng 40 → 60%, độ phân biệt từ 0,2 trở lên, độ tin cậy của bài trắc nghiệm phải từ 0,6 → 1,0, …
Tiêu chuẩn định tính
- Câu dẫn: Phải bao hàm tất cả những thông tin cần thiết về vấn đề được trình bày một cách rõ ràng, ngắn gọn, súc tích và hoàn chỉnh.
- Các phương án chọn: Phương án chọn phải bảo đảm là chính xác hoặc chính xác nhất. Câu nhiễu phải có tính hấp dẫn và có vẻ hợp lý đối với người chưa nắm vững vấn đề. Các phương án chọn phải tương tự hoặc đồng nhất về mặt ngữ pháp.

IV- XÂY DỰNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA

1) Tính trọng số nội dung kiểm tra theo khung phân phối chương trình:
- Xác định số tiết của chủ đề và số tiết lí thuyết theo phân phối chương trình của từng chủ đề
- Chỉ số LT (Lí thuyết: cấp độ 1,2) được tính bằng cách: lấy số tiết lí thuyết nhân với 70%.
- Chỉ số VD (Vận dụng: cấp độ 3,4) được tính bằng cách: tổng số tiết trừ đi giá trị LT tương ứng.
- Trọng số các ô tương ứng với số tiết thực dạy được tính bằng cách lấy giá trị ô tương ứng của số tiết thực dạy nhân với 100 chia cho tổng số tiết.
Như vậy, tổng tất cả các trọng số của của một đề kiểm tra luôn bằng 100.
2) Tính số câu hỏi và điểm số cho các cấp độ
Số câu(ở mỗi cấp độ)= Trọng số*Tổng số câu/100
Điểm số(ở mỗi cấp độ)= Trọng số*Tổng số điểm/100
3)Thiết lập ma trận đề kiểm tra gồm các thao tác sau :
B1. Liệt kê tên các chủ đề (nội dung, chương...) cần kiểm tra;
B2. Viết các chuẩn cần đánh giá đối với mỗi cấp độ tư duy;
B3. Quyết định phân phối tỉ lệ % tổng điểm cho mỗi chủ đề (nội dung, chương...);
B4. Quyết định tổng số điểm của bài kiểm tra;
B5. Tính số điểm cho mỗi chủ đề (nội dung, chương...) tương ứng với tỉ lệ %;
B6. Tính số điểm và quyết định số câu hỏi cho mỗi chuẩn tương ứng;
B7. Tính tổng số điểm và tổng số câu hỏi cho mỗi cột;
B8. Tính tỉ lệ % tổng số điểm phân phối cho mỗi cột;
B9. Đánh giá lại ma trận và chỉnh sửa nếu thấy cần thiết.


KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA
(Dùng cho loại đề kiểm tra TL hoặc TNKQ)
Môn: ....................Lớp:...............
(Thời gian kiểm tra: .......phút )
Tên Chủ đề
(nội dung, chương)
Nhận biết
(cấp độ 1)
Thông hiểu
(cấp độ 2)
Vận dụng Cộng
Cấp độ thấp
(cấp độ 3)
Cấp độ cao
(cấp độ 4)
Chủ đề 1
 
Chuẩn KT, KN cần kiểm tra Chuẩn KT, KN cần kiểm tra Chuẩn KT, KN cần kiểm tra Chuẩn KT, KN cần kiểm tra  
Số câu
Số điểm   
  Tỉ lệ %
Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
Số câu
... điểm=...%
Chủ đề 2
 
Chuẩn KT, KN cần kiểm tra Chuẩn KT, KN cần kiểm tra Chuẩn KT, KN cần kiểm tra Chuẩn KT, KN cần kiểm tra  
Số câu
Số điểm    
 Tỉ lệ %
Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
Số câu
... điểm=...%
.............          
...............          
Chủ đề n
 
Chuẩn KT, KN cần kiểm tra Chuẩn KT, KN cần kiểm tra Chuẩn KT, KN cần kiểm tra Chuẩn KT, KN cần kiểm tra  
Số câu
Số điểm 
 Tỉ lệ %
Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
Số câu
... điểm=...%
Tổng số câu
Tổng số điểm
Tỉ lệ %
Số câu
Số điểm
%
Số câu
Số điểm
%
Số câu
Số điểm
%
Số câu
Số điểm


Cần lưu ý:
- Khi viết các chuẩn cần đánh giá đối với mỗi cấp độ tư duy:
+ Chuẩn được chọn để đánh giá là chuẩn có vai trò quan trọng trong chương trình môn học. Đó là chuẩn có thời lượng quy định trong phân phối chương trình nhiều và làm cơ sở để hiểu được các chuẩn khác.
+ Mỗi một chủ đề (nội dung, chương...) đều phải có những chuẩn đại diện được chọn để đánh giá.
  + Số lượng chuẩn cần đánh giá ở mỗi chủ đề (nội dung, chương...) tương ứng với thời lượng quy định trong phân phối chương trình dành cho chủ đề (nội dung, chương...)  đó. Nên để số lượng các chuẩn kĩ năng và chuẩn đòi hỏi mức độ tư duy cao (vận dụng) nhiều hơn.
- Quyết định tỉ lệ % tổng điểm phân phối cho mỗi chủ đề (nội dung, chương...):
Căn cứ vào mục đích của đề kiểm tra, căn cứ vào mức độ quan trọng của mỗi chủ đề (nội dung, chương...) trong chương trình và thời lượng quy định trong phân phối chương trình để phân phối tỉ lệ % tổng điểm cho từng chủ đề.
- Tính số điểm và quyết định số câu hỏi cho mỗi chuẩn tương ứng
            Căn cứ vào mục đích của đề kiểm tra để phân phối tỉ lệ % số điểm cho mỗi chuẩn cần đánh giá, ở mỗi chủ đề, theo hàng. Giữa các cấp độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng theo thứ tự nên theo tỉ lệ phù hợp với chủ đề, nội dung và trình độ, năng lực của học sinh.
+ Căn cứ vào số điểm đã xác định ở B4 để quyết định số điểm và câu hỏi tương ứng, trong đó mỗi câu hỏi dạng TNKQ phải có số điểm bằng nhau.
+  Nếu đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trắc nghiệm khách quan và tự luận thì cần xác định tỉ lệ % tổng số điểm của mỗi một hình thức sao cho thích hợp.
MÔ TẢ VỀ CẤP ĐỘ TƯ DUY
 
Cấp độ tư duy Mô tả
Nhận biết
(cấp độ 1)
Học sinh nhớ được (bản chất) những khái niệm cơ bản của chủ đề và có thể nêu hoặc nhận ra các khái niệm khi được yêu cầu.
Thông hiểu
(cấp độ 2)
Học sinh hiểu các khái niệm cơ bản và có thể sử dụng khi câu hỏi được đặt ra gần với các ví dụ học sinh đã được học trên lớp.
Vận dụng ở cấp độ thấp
(cấp độ 3)
Học sinh vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần và có thể sử dụng các khái niệm của chủ đề trong các tình huống tương tự nhưng không hoàn toàn giống như tình huống đã gặp trên lớp.
Vận dụng ở cấp độ cao
(cấp độ 4)
Học sinh có khả năng sử dụng các khái niệm cơ bản để giải quyết một vấn đề mới hoặc không quen thuộc chưa từng được học hoặc trải nghiệm trước đây, nhưng có thể giải quyết bằng các kỹ năng và kiến thức đã được dạy ở mức độ tương đương. Các vấn đề này tương tự như các tình huống thực tế học sinh sẽ gặp ngoài môi trường lớp học.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Văn bản mới

1334/BGDĐT-CTHSSV

1334/BGDĐT-CTHSSV

Thời gian đăng: 13/06/2018

lượt xem: 37 | lượt tải:25

890/QĐ-BGDĐT

890/QĐ-BGDĐT

Thời gian đăng: 13/06/2018

lượt xem: 48 | lượt tải:25

794/QĐ-BGDĐT

794/QĐ-BGDĐT

Thời gian đăng: 13/06/2018

lượt xem: 39 | lượt tải:72

930_BGDĐT-GDTC

Hướng dẫn thực hiện công tác y tế trường học

Thời gian đăng: 31/03/2018

lượt xem: 77 | lượt tải:33
Hỗ trợ khách hàng
Thành viên
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
h1
h2
h3
h4
h5
Quảng cáo 1
Quảng cáo 2
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây